Bút danh: caolinh Ngày đăng nhập: 13/04/2010 10:44 Tuổi: 29 Nơi ở hiện tại: Hà Nội Muốn làm quen: Nam Tự giới thiệu: tôi là Nguyễn Bảo Tường Linh, sinh năm 1983, quê quán Hưng Yên, hiện đang sống và làm việc tại HN. Tốt nghiệp Trường Cao đẳng Văn thư Lưu trữ TWI và Khoa Báo chí Truyền thông Trườn g Đại học Khoa học Xã...
Bút danh: hamy_27_02 Ngày đăng nhập: 15/05/2012 20:02 Tuổi: 45 Nơi ở hiện tại: Hưng Yên Tự giới thiệu: Ban be la mot nua. Giau vi ban, sang vi vo.
Bút danh: tinh_khuc_nguyet_ho Ngày đăng nhập: 04/09/2009 18:03 Tuổi: 31 Nơi ở hiện tại: Hưng Yên Tự giới thiệu: Chẳng có lời giới thiệu nào chính xác bằng cảm nhận của chính bạn. "Sống trong đời sống cần có một tấm lòng" :D
Bút danh: t_phuong2111 Ngày đăng nhập: 04/08/2011 11:04 Tuổi: 27 Nơi ở hiện tại: Hồ Chí Minh Tự giới thiệu: Ai cũng một lần trãi qua nổi đau ,những nổi đau lỗi lầm đã thuộc về quá khứ ,còn ta vẩn phải tiến bước trên cuộc đời này.Hã y mạnh dạng sống theo trái tim mình,co thể bạn sẽ gặp những nổi đau khác,co...
Từ một giáo viên dạy sinh hoá rồi vì mê thơ mà bỏ nghề, ngày qua ngày đi rong ruổi các Trại sáng tác từ Đồ Sơn tới Đà Lạt. Thoắt cái thanh xuân đã vút qua, người phụ nữ ấy đã xấp xỉ ở vào cái tuổi lục tuần. Người ta ít thấy bà xuất hiện ồn ào trước đám đông, cũng không tham gia bất cứ Hội Văn học nghệ thuật nào dù nhận được không ít lời mời gọi. Gặp bà trong một căn nhà nhỏ bừa bộn những trang bản thảo viết dở giữa làng “hai vua” (Đường Lâm- Hà Tây), tôi như hiểu, từ rất lâu rồi, nữ sĩ đa tài ấy đã chọn cuộc sống ẩn dật để âm thầm cảm xúc và viết. Phải chăng bà muốn lánh xa cái ồn ào của cuộc đời hay tại đôi chân đã mỏi? Số phận như con tạo xoay vần, hai lần qua đò đều không tới bến, để rồi người Đường Lâm, ai cũng gọi bà là “ người phụ nữ có gương mặt đa đoan”. Bà là nhà thơ Phan Thị Bảo.
1, Văn chương vận vào tôi như người say cờ bạc
Tôi đã bị lạc khi đi tìm ngôi nhà của bà. Nó không án ngữ mặt đường mà chui sâu vào một con ngõ rất nhỏ. Bà bảo, thi sĩ thì phải ở chốn này, không thì cái ồn ào của cuộc sống sẽ phá tan cảm xúc. Gian nhà nhỏ không có mấy đồ đạc, chỉ một tủ sách rất to kê sát đầu giường bày la liệt những cuốn sách văn học, lịch sử. Hình như có một chút gì đó lạnh lẽo trong căn nhà này? Cũng phải thôi, người chủ của nó lâu rồi không đón khách, ngày qua ngày đóng cửa ngồi trong nhà viết lách. Có khi người hàng xóm cũng thắc mắc “ không biết bà Bảo đi đâu mà khoá cửa suốt ngày”?
Bà sinh năm 1951 ở thôn Mông Phụ, ngay chính giữa trung tâm của làng cổ. Tốt nghiệp chuyên ngành sinh hoá (Cao đẳng Sư phạm Hà Tây), bà trở thành cô giáo trường làng. Gắn bó với phấn bảng được một thời gian thì bất ngờ một ngày thấy bà ôm đơn lên Ban giám hiệu xin thôi dạy, chỉ với một lí do: không còn thời gian để tâm huyết với nghề nữa. Thời đó, nghề sư phạm rẻ rúng như bèo, vài đồng lương tháng, vài ưu tiên tem phiếu cũng chẳng đủ để thay đổi cảnh sống “sáng no chiều đói”. Bởi vậy khi bà đưa đơn lên, người ta chỉ nghĩ “chắc nó bỏ nghề đi buôn”. Buôn bán ngày đó “phát” lắm nhưng là “buôn ngầm bán trộm” thôi. Lúc bấy giờ là thời kì hợp tác xã, mọi thứ đều là của chung, làm gì có hàng phân phối tư thương. Thế rồi bà cũng phân tích, rằng bà nghỉ dạy để ở nhà làm thơ. Bấy giờ người ta tròn mất lên, có người bảo “sao mà nó hâm hâm”. Cũng mặc, người ta quen nói thi sĩ là lập dị rồi.
Rồi từ ngày đó, đôi chân bắt đầu rong ruổi, lang bang hải hồ để đi tìm cảm xúc. Đến hôm nay, ngồi tổng kết lại, sao mà giật mình vì sức đi và viết tuyệt vời của người phụ nữ ấy. Trong cái tủ sách chất chồng, bà xếp lại ngay ngắn 30 cuốn, đủ cả văn thơ. Đó là tài sản của một cuộc đời mê đắm văn chương mà theo như lời bà “văn thơ gắn lấy tôi như người say cờ bạc, muốn dứt ra cũng không được”.
Ở tuổi gần 60, bà vẫn viết thơ tình. Giận cái tuổi sao mà đến nhanh nhưng vẫn cảm ơn trời vì cái xúc cảm thanh xuân thì vẫn còn rõ lắm. Bà kể, ngày xưa đi học, vốn có năng khiếu nên hay được bạn bè nhờ làm thơ, viết thư tình hộ. Thì viết. Không nhớ nổi đã có bao nhiêu bài thơ, bao nhiêu bức thư tình được gửi đi nhưng bây giờ ngồi nghĩ lại, bà vẫn kể vanh vách những lần mai mối thành công: anh 40 tuổi lấy cô 21, anh thương binh cưới được cô giáo làng, chuyện hai hàng xóm nhờ thư bà mà từ chỗ ghét nhau quá lại hóa thương nhau…Những người được bà giúp đỡ cứ rối rít cảm ơn. Kẻ quá lời thì tôn vinh bà như “hiệp sĩ’. Kẻ cứ xuýt xoa bảo “bà mối mát tay”. Còn bà mỉm cười hài lòng, coi như thứ văn thơ chữ nghĩa ấy đâu phải không có ích.
Tôi không biết phải gọi bà là nhà văn hay nhà thơ. Bà viết thơ nhiều nhưng nhiều người lại biết đến Phan Thị Bảo với tiểu thuyết “Bến lở”, “Cây liễu trong mưa”, “Làng ven đồi”…Truyện ngắn “Nước mắt đồng đội” đã nhận được tặng thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam. Bà bảo, thấy ngại mỗi khi có ai đó gọi mình là nhà văn, nhà thơ, sợ còn có cái gì không xứng đáng. Cái mục đích cao nhất của bà là được sống trọn vẹn với cảm xúc chứ không phải sốt sắng, ầm ĩ đi khẳng định cái tên. Kiếp thi sĩ, ngẫm kĩ, cũng thật bạc bẽo. Nay người ta đọc thơ mình, bảo hay, rung động lắm. Mai, cũng vẫn những vần thơ ấy, thậm chí cũng những con người ấy, lại nhận được những lời chẳng mấy hay ho, thậm chí người ta còn không thèm đọc, phụ công người thi sĩ.
Rồi thi sĩ là nghèo, là nợ nần chồng chất. Nợ vì những chuyến lang bang đi tìm cảm xúc, đâu phải không tốn tiền. Nợ vì những lần mang bản thảo đến nhà in để xuất bản cả ngàn cuốn. Có khi may mắn nhận được bàn tay của một Mạnh Thường Quân, có khi phải vò đầu dứt trán khi nhà xuất bản nheo nhéo gọi điện giục mang tiền ra để cho máy chạy. 30 lần ra các tập thơ, truyện là cả 30 lần tất tả ngược xuôi, lo sao có tiền. Nhiều khi bí quá đành phải đi viết thuê. Mà cái đời viết thuê có bao giờ thấy tên mình ở trang bìa giới thiệu. Có những lần đau xót, bà khóc như một đứa trẻ khi cuốn tiểu huyết “Mưa tàn” bà viết trong gần hai năm được người ta giới thiệu hay ho lắm. Nhưng tuyệt nhiên, tác giả của nó, được in hình to tướng ở ngay trang bìa, không phải là bà. Một gã không tên tuổi nào đó đã bỏ ra 6 triệu để được làm tác giả. Dĩ nhiên bà chấp nhận vì khi đó bà cần tiền cho một đam mê ấp ủ khác, một cuốn trường ca lịch sử.
2, Nhà thơ nữ đầu tiên viết trường ca lịch sử
Từ khoảng những năm 1999, bà bắt đầu chuyển sang viết trường ca lịch sử. Không phải vì đam mê xảy đến bất ngờ mà xuất phát từ nỗi đau khi con trẻ ngày càng mơ hồ về lịch sử. Khi hỏi “làng mình có mấy vua?”, lũ trẻ ở Đường Lâm hồn nhiên trả lời “chẳng có vua nào cả”. Hỏi người lớn “Đức Thánh Trần là ai?”, người lớn cũng thản nhiên “là con Trần Quốc Toản”. Thế thì phải viết, viết kĩ hơn về lịch sử để sẽ không còn cái cảnh lầm lẫn bi hài “Bà Trưng là chị, Bà Triệu là em” nữa. Nhưng phải viết như thế nào để người ta có hứng thú đọc, hứng thú tìm hiểu, bà nghĩ ngay đến thơ. Ngày xưa cụ Nguyễn Du đã viết hơn 3000 câu thơ về số phận một kiếp hoa bèo dạt mây trôi, qua bao chìm nổi thời gian, nó vẫn là cuốn sách gối đầu giường cho nhiều người. Dĩ nhiên đó không phải là trường ca lịch sử. Còn bây giờ bà phải dùng thơ để viết sử. Thế là viết, hăng say và đầy tâm huyết.
Đã có 5 tập trường ca được xuất bản: trường ca “Mẹ” (nhận quà tặng hưởng ứng cuộc vận động sáng tác do Tổng cục chính trị tổ chức năm 1999), Tiếng vọng Đường Lâm, Tiếng vọng triều Lê, Truyền thuyết Hai Bà Trưng, Thiên tình sử trời
3, Mỏng manh một kiếp tình duyên
Thơ của bà đa đoan, như chính cuộc đời người nữ sĩ đa tài nhưng bị tạo hoá “trêu ngươi”. Tập thơ tình “Dặm trường đa đoan” như một sự tự cảm về chính cuộc đời mình: yêu, ghét, hận, có lúc bất cần, đôi đoạn chửi rủa…nhưng đọng lại vẫn là một trái tim đầy khát vọng, luôn luôn bỏng cháy. Thơ như ứng với đời. Có ai đã bảo, thi sĩ là chịu kiếp mong manh. Không phải sự mong manh của phận đời mà là sự mong manh của tình duyên. Với nữ sĩ Phan Thị Bảo, điều này đúng. Lấy chồng từ tuổi 20 nhưng cuộc hôn nhân đầu tiên quá ngắn ngủi. Niềm say mê văn chương đã phải trả giá bằng sự đổ vỡ của một gia đình. Không người chồng nào muốn người phụ nữ biền biệt gia đình để đi lang thang cho xúc cảm thơ văn. Hai người li hôn, lúc ấy cô con gái xinh như hoa vẫn còn bé xíu.
Đến với cuộc hôn nhân thứ hai như một lẽ “bất đắc dĩ”. Bà lấy chồng của người bạn thân. “Ngẫm ra muôn sự tại người”, đổ lỗi cho số phận chỉ là cách con người chạy trốn lỗi lầm của mình, bà bảo thế. Biết là thế nhưng ngẫm kĩ, cuộc hôn nhân này đúng là sự sắp đÆt cay nghiệt của số phận. Chuyện là người bạn của bà không sinh được con, đành dứt ruột đi “cưới vợ cho chồng”. Mọi sự đưa dẩy thế nào, cuối cùng cô bạn đến khóc lóc, xin bà hãy vì tình bạn bấy lâu nay mà chấp nhận cái đề nghị tội lỗi ấy. Đám cưới được tổ chức. Nhưng rồi tạo hoá lại xoay vần, kiếp người bị trừng phạt. Không bao lâu sau khi bà sinh được cậu con trai kháu khỉnh thì cô bạn kia cũng có thai. Đau đớn, vật vã, bà bồng con ra đi. Thôi thì “chồng người lại trả cho người”. Sau này, viết về cuộc tình trớ trêu ấy, bà đã khóc, rằng: “Ngẫm ra muôn sự đời thường, Ai mang thương nhờ mà nhường cho nhau”. Người xưa vẫn nói: “Tránh sao được kiếp đa tài, Người mang số ấy phải hai lần đò”. Hai lần đò mà vẫn không tới bến. Cay nghiệt thay, trò đùa của số phận!
Bà có nhiều bạn bè văn thơ: nhà văn Ma Văn Kháng, Hữu Mai, Hồ Phương, Nguyễn Thị Ngọc Tú…Thỉnh thoảng những người bạn văn chương ấy lại lặn lội về tận Đường Lâm thăm bà, tiện thể tặng đôi ba tập thơ, tập truyện. Từ lâu rồi, bà ít ngao du, không còn tất tả mua vé theo xe buýt về tận 65 Nguyễn Du, trụ sở Hội Nhà văn Việt
Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Tú, Tổng biên tập tạp chí Tác phẩm mới (Hội Nhà văn Việt