Những ngày tháng 7 năm 1972 đất trời khu vực thị xã Quảng Trị như một chảo lửa khổng lồ. Cuộc hành quân Lam Sơn 72 của địch nhằm tái chiếm lại những vùng chúng đã bị mất đang ở những ngày quyết liệt. Các đơn vị ta chốt giữ trong thị xã và Thành cổ Quảng Trị đang phải hứng chịu những gì khốc liệt nhất mà kẻ thù đang dội xuống nơi đây có lẽ chỉ còn thiếu bom nguyên tử. Đoạn sông Thạch Hãn sang bên thị xã sôi lên sung sục, đủ các loại hỏa lực của địch từ B52, máy bay chiến thuật, pháo từ hạm đội 7 và từ các trận địa pháo đủ loại dội vào đây tạo nên những màn nước giăng trên dòng sông còn phải kể đến những luồng 12 ly 8 và đại liên của địch quét trên sông hòng ngăn chặn sự chi viện của ta từ bờ Bắc bên Nhan Biều, Xuân An.
Đại đội 3, tiểu đoàn 14 cối 120 ly của sư đoàn 325 bám trụ bên bờ Bắc thuộc thôn Xuân An, xã Triệu Thượng để chi viện cho quân ta ở bên Thị xã. Chưa đầy một tháng trận địa của các anh đứng chân tại đây nhưng đã tổn thất nhiều vì hỏa lực của địch. Sự chi viện của các anh cũng hạn chế rất nhiều vì đạn dược có hạn, trang bị hỏng hóc không bổ sung kịp và quân số thương vong nhiều, bắn được vài quả là địch phản pháo lại 1 cách dữ dội.
Một đêm cuối tháng 7, tổ tuần tra do b trưởng Quýnh (người Hải Dương) phụ trách, đang cảnh giới phía bờ sông, chợt có tiếng lạch cạch va chạm của vỏ đồ hộp thu hút sự chú ý của các anh, dưới ánh sáng của pháo sáng địch, trong đống đổ nát của những căn nhà bị bom pháo phá hủy, các anh phát hiện ngay gần đấy 1 bóng đen nhỏ tụt vào đống đổ nát của căn nhà bị sập. Cái gì nhỉ ? Địch chăng ? Không thể là người được vì bóng đen đó rất nhỏ, hay là một con chó còn sót lại trong bom đạn mù trời này !!!…
Sau khi được báo cáo, anh Mai (c trưởng) và anh Sáng (cv trưởng) quyết định đêm hôm sau phải tìm cách xác định bóng đen đó có phải là chó hay con vật gì ?
Ngay khi màn đêm buông xuống, Quýnh và mấy người nữa lại bò ra khu vực mà hôm trước các anh phát hiện ra bóng đen. Mật độ pháo kích của địch rất dầy đặc vì chúng biết hàng đêm chúng ta tiếp tế lương thực, đạn dược và bổ sung quân qua bến vượt Nhan Biều và Xuân An này. Chờ mãi không thấy động tĩnh gì, mọi người chúi trong những căn hầm thay nhau ngủ và cử người cảnh giới. Gần sáng khi mật độ pháo kích đã bớt đi, giữa các trận oanh kích dữ dội, khoảng không gian đặc quánh mùi khói đạn bỗng như yên ắng lạ thường… Chợt ngay gần đấy tiếng động của vỏ đồ hộp vọng đến. Người lính cảnh giới đá chân ra hiệu cho Quýnh hướng về nơi phát ra tiếng động. Một bóng đen nhỏ như một con chó thò đầu qua đống gạch đổ, con vật này khác chó ở chỗ chó thì gục đầu xuống để liếm láp vỏ đồ hộp, còn nó lại ngửa đầu lên để mút mát vỏ đồ hộp được cầm bằng chi trước…Người rồi chứ không phải là chó mà đây là 1 đứa trẻ còn sót lại trong những trận bom pháo vừa qua. Các anh tiến sát đến chỗ đứa trẻ, nghe động nó thụt rất nhanh vào đống đổ nát mất dạng.
Quyết phải bắt cho bằng được đứa bé, các anh khẳng định nó dứt khoát phải ra khỏi chỗ trú để kiếm ăn khi ngớt tiếng pháo kích. Gần sáng khi pháo địch vừa ngớt, các anh áp sát nơi trú ẩn của đứa bé. Khi nó vừa thò ra khỏi đống gạch, bằng động tác chuẩn xác, một người chụp lấy đứa bé đồng thời bịt miệng không để cho nó kêu vì bên kia sông là địch.
Dưới ánh sáng leo lét khói mù của ngọn đèn thắp bằng dầu đậu nành trong hầm của đại đội, một đứa con gái quãng chừng 2 tuổi chưa biết nói, chưa biết đi, người đen nhẻm lấm láp toàn bùn đất, cóc cách toàn những nốt ghẻ lở toàn thân, đứa bé chỉ ọ… ẹ … trong vòng tay những người lính đã đón nó về, có lẽ đã bao nhiêu ngày nó tồn tại như một con vật hoang dã và chẳng còn đủ sức để khóc nữa. Anh em đoán chắc cha mẹ nó đã chết vì bom pháo và nó đã sống sót cho đến ngày hôm nay.
Anh Mai giao đứa trẻ cho y tá đại đội chăm sóc và chữa trị ghẻ lở cho nó. Với bàn tay vụng về thô ráp của những người lính pháo đã cắt may cho cháu bé những bộ quần áo từ những vỏ chăn cắt ra. Anh Mai c trưởng đã đặt tên cháu là Xuân An và lấy họ Hồ của mình để làm họ cho cháu - Hồ Xuân An.
Bé Xuân An lớn lên trong vòng tay chăm sóc của những người bố nuôi của c3 dưới những trận oanh kích dữ dội của địch. Cháu đã chập chững những bước đi đầu tiên và bập bẹ gọi bố..bố… mỗi khi có người tạt vào hầm quân y thăm cháu…
Cuối năm 1974 các đơn vị của Sư đoàn 325 lần lượt bàn giao tuyến chốt chạy từ Đá Đứng, Tích Tường, Như Lệ về Nhan Biều, Xuân An qua Chợ Sãi, An Tiêm, Vân Hòa, An Lộng ra tới Long Quang, Thanh Hội sát mép biển cho các đơn vị địa phương để lui lên Cam Lộ chuẩn bị cho những chiến dịch mới. Những tiểu đoàn trợ chiến của sư cũng rục rịch chuyển quân, d14 cối 120 ly cũng nằm trong số những đơn vị như thế.
Trước tình hình mới, lãnh đạo tiểu đoàn chỉ đạo các đại đội gấp rút làm công tác bàn giao địa bàn cho đơn vị bạn. Với bé Xuân An gắn bó với c3 hơn một năm nay, cũng không thể mang theo đơn vị được, cái khó là tình cảm của cháu với các bố c3 vô cùng sâu nặng. Cháu đã chạy đi chạy lại tung tăng giữa các hầm pháo, bi bô nói cười, bập bẹ hát và vỗ tay theo nhịp mỗi khi nghe các bố hát…Chẳng còn cách nào khác, D bộ 14 quyết định cho c3 trao Xuân An cho du kích địa phương. Eng (anh) Chim và o Diệp được xã trao trách nhiệm chăm sóc cháu. Ngày chia tay với các bố c3 nhìn cánh tay bé nhỏ chới với trước hàng quân trong tiếng khóc gọi bố…bố ơi... của Xuân An đã làm cho những người lính c3 phải gạt nước mắt bước đi không dám ngoái đầu nhìn lại…
Trong cơn lốc ào ạt của chiến dịch Xuân 1975, gót chân của những người lính c3/d14 trong đội hình của Sư 325 từ Quảng Trị vượt Trường Sơn thọc xuống cắt đường 1 tại Phú Lộc, tiến vào giải phóng Huế rồi cùng đội hình của Sư đoàn tiến đánh Đà Nẵng, băng qua duyên hải miền Trung, hỗ trợ e101 và e18 giải phóng Phan Rang, Phan Thiết…Trong chiến dịch Hồ Chí Minh các anh đã yểm trợ tích cực cho các đơn vị bộ binh tiến đánh Long Thành, Thành Tuy Hạ và hỗ trợ cho các đơn vị pháo binh cơ giới của Sư đoàn và Quân đoàn đưa pháo hạng nặng vào Nhơn Trạch để chế áp kẻ thù tại Tân Sơn Nhất… Khi Sư đoàn vượt sông Đồng Nai, hỏa lực của d14 cùng các đơn vị bạn đã chế áp kẻ địch bên căn cứ Cát Lái hỗ trợ tích cực cho Sư đoàn đánh chiếm BTL Hải quân ngụy, giải phóng quận 2 và 9 góp phần vào chiến công của chung của dân tộc, đưa chúng ta đến đích cuối cùng của cuộc chiến tranh giải phóng, thống nhất đất nước.
Chiến tranh kết thúc, những người lính trở về với đời thường, biết bao những lo toan của cuộc sống đè nặng lên vai họ nhưng trong tâm khảm của họ không bao giờ quên những ký ức gian khổ, đầy máu và nước mắt nơi mà rất nhiều đồng đội của họ không bao giờ trở về. Năm tháng trôi qua khi mái tóc của những CCB mỗi lúc bạc thêm thì những câu chuyện của quá khứ không những nguôi ngoai đi mà hình như càng thôi thúc họ chắp nối để tìm lại những gì mà một thời tuổi trẻ đã sống và chiến đấu.
Đại đội trưởng Mai và chính trị viên Sáng là những cán bộ quê miền Nam sau khi giải phóng đã chia tay đơn vị để nhận nhiệm vụ mới. Anh Mai được điều về các đơn vị làm nhiệm vụ truy quét tàn quân địch và FULRO tại Tây nguyên. Anh Sáng được cử đi học và về công tác tại Viện Kiểm sát nhân dân Lâm Đồng. Có một sự trùng hợp là hai anh sau khi nghỉ hưu đều đưa vợ con lên Đà Lạt sinh sống. Trong tâm khảm của các anh luôn đau đáu một nỗi niềm về cháu Xuân An, sau mấy chục năm đằng đẵng, các anh muốn đi tìm cháu ngặt một nỗi không có điều kiện và không có thông tin gì về cháu.
Cao Huy Trang, quê Hưng Yên, cùng một số anh em c3/d14 sau một thời gian tìm kiếm và kết nối với nhau trong nhóm các CCB Sư đoàn 325 của tỉnh Hưng Yên. Hoạt động của nhóm các anh là trở lại chiến trường cũ tìm kiếm và xác định mộ phần các bạn đồng đội đã hy sinh để đưa về quê hương. Các anh cũng đã kết nối liên lạc được với c trưởng Hồ Mai và cv trưởng Nguyễn Đình Sáng đang ở Đà Lạt. Một trong những nguyện vọng của 2 vị chỉ huy cũ là phải tìm ra bằng được bé Xuân An
Những chuyến đi về Quảng Trị, các anh trở lại Xuân An để tìm bé Xuân An nhưng chỉ được 2 du kích cũ là eng Chim và o Diệp cho biết sau năm 1975 bà con Xuân An lục tục trở về quê cũ, trong số họ không có ai là người thân của bé Xuân An. Bé Xuân An được du kích địa phương trao cho mệ (bà) Nữ làm con nuôi. Năm 1978 nhiều gia đình ở thôn Xuân An đi xây dựng kinh tế mới tại Nam Bộ trong đó có gia đình mệ Nữ. Từ đó mọi thông tin về bé Xuân An đều dừng lại ở thời gian này.
Năm 2008, ông Trang cùng vợ chồng ông Nguyễn Văn Cường (nguyên là liên lạc của ông Mai và ông Sáng), Bí thư tỉnh ủy Hưng Yên lên Đà Lạt thăm ông Mai và ông Sáng. Trong câu chuyện gặp lại sau mấy chục năm các ông có nói đến việc phải đi tìm Xuân An. Thông tin mà ông Mai biết là Xuân An đang làm công nhân cao-su ở Đồng Nai. Sau đó mấy ngày ông Trang cùng ông Mai và con trai ông Mai tên là Thủy xuống Đồng Nai để tìm. Suốt 2 ngày trời cả ba người đi hết các công ty cao-su của Tổng công ty cao-su Đồng Nai mà không tìm thấy Xuân An.
Tình cờ vào khoảng tháng 4/2010 những thông tin về Xuân An lại được sáng tỏ khi anh Lý Văn Tuấn là con trai bà Nữ sau mấy chục năm quay trở lại thăm quê, lúc này anh đang là giáo viên tiểu học tại Bà Rịa - Vũng Tầu. Tuấn là trang lứa với Chim quãng chừng 55 tuổi. Bạn bè gặp gỡ nhau sau bao năm xa cách, qua câu chuyện thì bé Xuân An ngày xưa được bà Nữ đặt tên là Tuyết và mang họ của chồng bà Nữ - Lý Thị Tuyết. Bé Xuân An nay đã là bà mẹ của 5 đứa con sinh sống tại ấp 4B, xã Tân Lâm, huyện Xuyên Mộc, Bà Rịa - Vũng Tầu.
Nhận được tin về Xuân An (Tuyết), ông Trang đã báo cáo lại cho nhóm CCB của c3/d14/f325 của Hưng Yên, ông Nguyễn văn Cường, Bí thư tỉnh ủy và ông Vũ Văn Toàn (e95/f325), Trưởng ban tuyên giáo tỉnh quyết định cử ông Trang vào BR - VT để tìm Xuân An.
Một ngày tháng 7/2010 vợ chồng ông Trang đánh xe lên Đà Lạt để đón ông Mai và ông Sáng ra BR-VT. Họ đến Xuyên Mộc để đến xã Tân Lâm và tìm đến ấp 4B, nơi Xuân An đang sinh sống.
Cuộc hội ngộ điễn ra vô cùng cảm động khi cả cái ấp nghèo ấy kéo đến nhà cô Tuyết để chứng kiến những giây phút cảm động của những người lính già đầu bạc sau bao năm ròng đã tìm thấy cô con gái nuôi của mình.
Theo gia đình mẹ nuôi vào BR-VT làm công nhân cao-su, Tuyết kết hôn với Lê Đỗ Thành sinh năm 1964 quê tại xã Triệu Độ cùng huyện Triệu Phong, QT. Hoàn cảnh của những người đi xây dựng vùng kinh tế mới vô cùng vất vả đã khiến họ đồng cảm cùng xây dựng cuộc sống gia đình. Hai vợ chồng có 5 mặt, con đứa lớn đang học đại học, đứa bé nhất mới lên 10, cuộc sống không dư giả gì với nghề cạo mủ cao-su.
Ngày 6/3/2011, anh em CCB f325 thu xếp cho Tuyết ra thăm Yên Mỹ, Hưng Yên quê hương của những bố nuôi c3/d14, những người đã cứu sống, che chở, chăm sóc cô trong những ngày chiến tranh và chính họ lại là những người đã lăn lội bao nhiêu năm tìm lại cô để có ngày hội ngộ hôm nay.
Mấy hôm sau, tại TP Hưng Yên, anh em CCB đã tổ chức tiếp đón Tuyết. Tại đây nhiều người lính Quảng Trị năm xưa, nay đã trở thành những cán bộ chủ chốt của tỉnh như ông Cường - Bí thư tỉnh ủy ; ông Toàn - Trưởng ban Tuyên giáo của tỉnh và nhiều CCB khác đã nồng hậu đón tiếp cháu. Niềm vui vỡ òa xen lẫn những giọt nước nước mắt nhạt nhòa trên những khuôn mặt pha sương của những người lính già khi bé Xuân An ngày xưa, cô Tuyết ngày nay - đứa con nuôi của tiểu đoàn 14 lưu lạc bao năm đã trở về trong vòng tay của những người bố nuôi như năm nào cô được che chở trong lòng những người lính giải phóng bên dòng Thạch Hãn mịt mù khói lửa. Nếu như 2 vị chỉ huy cũ của c14 là Hồ Mai và Nguyễn Đình Sáng được chứng kiến cuộc hội nghộ này thì hạnh phúc thật là lớn lao.
Thật tình cờ, Tuyết ra bắc đúng dịp kỷ niệm 60 năm thành lập Sư đoàn 325, cháu đã gặp gỡ những CCB của Sư đoàn 325 tại Lục Ngạn, Bắc Giang nơi Sư 325 đóng quân. Chúng tôi đã gặp cháu và những đồng đội c3/d14 quê Hưng Yên trong không khí náo nức của những thế hệ chiến sĩ Sư đoàn từ mọi miền đất nước về dự lễ.
Tôi viết bài này qua câu truyện của Cao Huy Trang và các CCB c3/d14 trong dư âm của tháng 3, cái mốc thời gian mà bất kỳ CCB nào của Sư đoàn 325 đều mãi mãi khắc ghi:
- 11/3/1951 thành lập Đại đoàn 325 (nay là Sư đoàn) - Bình Trị Thiên - bằng chiến thắng Thanh Hương, Mỹ Xuyên tiêu diệt 2 binh đoàn cơ động của Pháp.
- 10/3/1975, e95 nổ súng tấn công Ban Mê Thuột mở màn chiến dịch Tây Nguyên, khởi đầu cho Chiến dịch Xuân 1975 đại thắng.
- 21/3/1975, Sư đoàn (thiếu e95 đang ở Tây Nguyên) nổ súng cắt đường 1 tại Phú Lộc (nam Huế) bắt đầu Chiến dịch giải phóng Huế-Đà Nẵng.
- 25/3/1975, e101 cắm lá cờ giải phóng lên cột cờ Phú Văn Lâu.
- 29/3/1975, e18 sau khi đập tan tuyến phòng ngự của địch trên đèo Hải Vân đã tiến công bán đảo Sơn Trà, giải phóng cảng Đà Nẵng, kết thúc chiến dịch Huế - Đà Nẵng toàn thắng.
Lục Ngạn – Hà Nội, tháng 3/2011
LXT: Trong dịp trở về Sư đoàn để tham dự lễ kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Sư đoàn 325 (11/3/1951 - 11/3/2011), tình cờ những người lính của tiểu đoàn 14 cối 120 ly đã kể lại cho tôi nghe câu chuyện rất cảm động về đứa trẻ mà các anh đã tìm thấy và nuôi nấng, chở che cho nó trong những tháng ngày ác liệt bên dòng Thạch Hãn 39 năm về trước.

Xuân An với câc CCB f325. Hàng ngồi: 1-Bí thư tỉnh ủy HY Nguyễn Văn Cường (c3/d14) ; 2-Thiếu tướng Nguyễn Đức Huy nguyên Sư trưởng 325 ; 3-Đinh Thế Huynh, UV BCT, Trưởng Ban Tuyên giáo TƯ (c20/e101/f325). Hàng đứng: 1-Đại tá Vũ Thành Vinh sư trưởng 325 ; 3-Vũ Văn Toàn, Trưởng ban Tuyên giáo tỉnh HY (e95/f325) ; 4-Xuân An ; 6-Cao Huy Trang (c3/d14/f325)
